Trang chủ » 2019 » Tháng 11 » 3 trụ cột của triết học Hy Lạp cổ đại

3 trụ cột của triết học Hy Lạp cổ đại

Thầy dậy mình đã quý, chân lý còn cao quý hơn

3 trụ cột của triết học Hy Lạp cổ đại

1. Socrates

Socrates sinh khoảng năm 400 TC, là người đặt nền móng sáng tạo ra nền triết học phương Tây. Ông được so sánh như Khổng Tử, vị vạn thế sư biểu Á Đông. Trong suốt cuộc đời mình, Socrates không hề viết ra bất cứ điều gì, tư tưởng và triết học của ông được biết đến thông qua các tác phẩm do người học trò nổi tiếng Plato kể lại.

<-> Phương pháp Socrates

Socrates nổi tiếng với một phương pháp giúp người khác tự nhận thức được vấn đề. Sau này, người ta gọi theo tên của ông là phương pháp Socrates. Mặc dù vậy, ông không bao giờ thừa nhận mình là một thầy giáo và tự cho rằng mình giống như một bà đỡ, là người có kiến thức và ý thức được công việc của mình là “giúp đứa trẻ tự trào đời”. Ông nói: “Mẹ tôi đỡ đẻ cho sản phụ, còn tôi đỡ đẻ cho những bộ óc

Phương pháp này được diễn tả như sau : Ông sẽ đưa ra một loạt câu hỏi được để giúp một người xác định được niềm tin cơ bản và giới hạn của kiến thức họ. Từ đó người ta sẽ tìm ra các giả thuyết tốt hơn những suy nghĩ cũ của họ bằng cách từng bước xác định và loại bỏ các giả thuyết mâu thuẫn. Người đối thoại sẽ buộc phải xem xét lại các niềm tin của chính mình và tính đúng đắn của các niềm tin đó. Với vai trò là một người truy vấn, Socrates sẽ dẫn dắt người đối thoại tới một nhận thức sáng rõ khôn ngoan hơn theo cách hiểu của chính họ. 

Socrates cũng được biết đến là một triết gia về đạo đức đầu tiên của Athens. Một số câu nói về đạo đức của ông để lại :

  • Đạo đức – tất cả mọi đạo đức – là kiến thức
  • Đạo đức là đủ cho hạnh phúc
  • Đạo đức là khoa học là lối sống

Sau khi quan sát những người cha thành công nhưng không sinh ra những đứa con giỏi giang như mình. Sokrates lập luận rằng “sự ưu tú về đạo đức là một di sản thần thánh hơn là do sự giáo dục của cha mẹ

Socrates là người có quan điểm khiêm nhường với câu nói “Tôi biết rằng tôi không biết gì cả“. Ông cho cho rằng “kiến thức vốn là nghệ thuật của sự ham thích thông thái“. Ông thường xuyên nói rằng tư tưởng của ông không phải là của ông mà là của các thầy ông. Ông tin rằng con người với sự chống đối các vị thần như Apollo có thể thật sự trở nên khôn ngoan hơn.

Với việc ra sức chống phá những bất cập của nhà nước Athen, học trò Plato đã cho rằng Socrates như “ruồi trâu” của nhà nước Athens. Cuối đời, ông bị xử tử với cáo buộc bất kính với Athens.

Câu nói nổi tiếng : “Tôi biết rằng tôi không biết gì cả

-> 6 bậc thang đo nhận thức

3 trụ cột của triết học Hy Lạp cổ đại

2. Plato

Plato học trò xuất sắc nhất của Socrates. Ông là một nhà triết học duy tâm khách quan. Điểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của ông là học thuyết về ý niệm. Theo Plato, thế giới các sự vật cảm biết là không chân thực, không đúng đắn vì các sự vật không ngừng sinh ra và mất đi, thay đổi và vận động, không ổn định, bền vững, hoàn thiện; còn thế giới ý niệm là thế giới phi cảm tính phi vật thể, là thế giới đúng đắn, chân thực, các sự vật cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm. Nhận thức của con người không phải là phản ánh các sự vật cảm biết của thế giới khách quan mà là nhận thức về ý niệm. Thế giới ý niệm có trước thế giới cảm biết, sinh ra thế giới cảm biết.

Từ quan niệm trên Platon đã đưa ra khái niệm “tồn tại” và “không tồn tại“. Tồn tại theo ông là cái phi vật chất, cái nhận biết được bằng trí tuệ siêu tự nhiên là cái có tính thứ nhất. Còn không tồn tại là vật chất, cái có tính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất. Về mặt nhận thức luận Plato cũng mang tính duy tâm. Theo ông tri thức là cái có trước các sự vật chứ không phải là sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận thức các sự vật đó. Nhận thức con người không phản ánh các sự vật của thế giới khách quan mà chỉ là nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn những cái đã quên trong quá khứ.

Ông đã sáng lập ra học viện Plato và Aristotle là một học viên, học trò nổi tiếng nhất của Plato 

Câu nói nổi tiếng : “Tự chinh phục mình là chiến công vĩ đại nhất

 

3. Aristotle

Aristotle là một nhà triết học và bác học Hy Lạp cổ đại. Ông được gọi là “bậc thầy của những người hiểu biết”, là nhà bác học đầu tiên trên thế giới, là học trò của triết gia Plato và là thầy dạy của Alexander Đại Đế. Ông được xem là “Cha đẻ của khoa học chính trị. Cùng với Plato, Socrates, Aristotle là một trong ba trụ cột của triết học, văn minh Hy Lạp cổ đại.

Suốt cuộc đời nghiên cứu khoa học và triết học Aristotle đã để lại cho đời một kho tàng tri thức vô giá với cả ngàn đầu sách, tuy nhiên hầu hết đã bị thất lạc cho đến ngày nay. Sách của ông rất đa dạng về các lĩnh vực, từ những tác phẩm về triết học đến các tác phẩm khoa học về vật lý học, sinh vật học, thiên văn học, khí tượng học, vạn vật học. Cả sách về linh hồn, sách dạy về cách viết văn và làm thơ. Phần lớn những tác phẩm này được xuất bản sau khi Aristotle qua đời. Toàn thể các tác phẩm có thể xem là một bộ bách khoa của Hy Lạp và đặc biệt là do một người viết ra.

Quan điểm và một số câu nói nổi bật :

  • Thầy dậy mình đã quý, chân lý còn quý hơn
  • Vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ, càng nặng rơi càng nhanh
  • Mọi chuyển động có ý thức hay vô ý thức của sinh vật hoặc các vật thể đều tuân theo lẽ tự nhiên của chúng“, “nature will“.

Aristoteles chính là người đầu tiên lập ra vườn bách thảo và sở bách thú. Ông đã lập nên một trường học lấy tên là Lyceum chuyên nghiên cứu về sinh học và động vật học. Được sự ủng hộ của Alexander đại đế, có cả một đội quân hàng ngàn người rải rác khắp Hy Lạp và châu Á để sưu tầm những giống vật mới lạ về cho trường Lyceum của ông.

Nguồn tham khảo : Wikipedia

Trang chủ | Update: 26/11/2019

Gửi mail Chia sẻ

Chia sẻ của bạn