Trang chủ » 2018 » Tháng 11 » Mô hình cạnh tranh 5 áp lực của Michael Porter (5F – Five Forces)

Mô hình cạnh tranh 5 áp lực của Michael Porter (5F – Five Forces)

Mô hình 5 yếu tố cạnh trạnh Five Forces (5F) được cha đẻ của chiến lược cạnh tranh Michael Porter cho ra đời từ những năm 1980. Phân tích 5F giúp DN có bức tranh toàn cảnh về thị trường và khả năng tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh đến từ các lực lượng bên ngoài DN.

1. Sức mạnh của KH 

– Số lượng và vị thế người mua

– Thông tin sp, thị trường mà người mua có được

– Tính đặc trưng của sp/dv

– Tính nhạy cảm đối với giá

– Mức độ sẵn có của hàng hóa thay thế

– Động cơ của KH

2. Mức độ cạnh tranh của các đối thủ trực tiếp

– Chi phí giá thành thấp

– Sự nắm bắt và đi trước trong phân khúc

– Khác biệt và tính ưu trội của sp/dv

– Tính đặc trưng của thương hiệu

– Tính đa dạng của các đối thủ cạnh tranh

3. Sức mạnh của nhà cung cấp NCC (NCC)

– Cấp độ thương hiệu của NCC

– Số lượng và chất lượng sp của NCC cho DN

– Sự khác biệt của các NCC                                                  

– Ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào và chi phí giá thành của NCC

– Sự tồn tại của các NCC thay thế và nguy cơ tăng cường sự hợp nhất của các NCC

– Thị phần của NCC

4. Nguy cơ đến từ sp/dv thay thế:

– Các chi phí chuyển đổi trong sử dụng sp.

– Xu hướng sử dụng hàng thay thế của KH.

– Tương quan giữa giá cả và chất lượng của các mặt hàng thay thế.

5. Nguy cơ đến từ các đối thủ tiềm ẩn

– Các lợi thế chi phí giá thành thấp.

– Sự hiểu biết về chu kỳ dao động thị trường.

– Khả năng tiếp cận các yếu tố đầu vào.

– Chính sách của chính phủ, tính kinh tế theo quy mô

– Khả năng tiếp cận với kênh phân phối.

 

Mức độ cạnh tranh (Degree of Rivalry)

Để có được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, một DN có thể chọn một số cách thức cạnh tranh sau:

– Thay đổi giá để có được lợi thế ngắn hạn

– Cải thiện các đặc tính của sp/dv hướng đến sự vượt trội

– Gia tăng sự khác biệt của sp/dv

– Sử dụng nhiều hơn các kênh phân phối khác nhau

– Đẩy mạnh quảng cáo.

 

Cường độ cạnh tranh sẽ chịu ảnh hưởng của các đặc điểm ngành sau đây:

 – Số lượng của các công ty lớn trong ngành : Khi có nhiều cty lớn cùng hoạt động trong một phân khúc TT, mức độ chuyên nghiệp hoá sẽ cao hơn, mọi tiêu chuẩn chất lượng sẽ được đẩy lên cao dẫn đến mức độ cạnh tranh đòi hỏi sẽ cao. Cơ hội giành giật thị phần đối với các DN nhỏ sẽ ít hơn.

– Thị trường tăng trưởng chậm : Trong một thị trường tăng trưởng cao, sẽ có nhiều DN tham gia vào thị trường cũng như việc đẩy mạnh chiếm thị phần từ các đối thủ hiện tại, tuy nhiên DN vẫn có khả năng đạt lợi nhuận tốt do sự phát triển chung của toàn thị trường. Nhưng trong một thị trường tăng trưởng chậm, việc chiếm thị phần đi cùng với đạt mục tiêu lợi nhuận sẽ khó khăn hơn rất nhiều.

– Các chi phí cố định cao. CFCĐ ảnh hưởng mật thiết tới giá thành sp, khi có nhiều biến động từ thị trường, chính sách hay việc tham gia thị trường của các DN mới sẽ đẩy CFCĐ tăng cao. Như vậy, bài toán doanh thu – chi phí – lợi nhuận sẽ được tính lại, các hãng sẽ phải bán nhiều sp hơn hoặc chiếm được nhiều thị phần hơn.

– Mức độ khác biệt hóa sp thấp. Nếu sp/dv có đặc điểm khác nhau rõ rệt sẽ giảm mức độ cạnh tranh. Các sp tạo nên sự khác biệt trong giai đoạnh nhất định là đi vào những phân khúc ngách mới mà ở đó còn ít đối thủ.

– Các rào cản “thoát ra” cao. Các DN sẽ phải chịu chi phí cao nếu muốn ra khỏi ngành, điều này rõ rệt trong nhất trong ngành sản xuất. Vì thế DN buộc phải tiếp tục duy trì và cạnh tranh ngay cả khi việc kinh doanh ko còn được thuận lợi. Rào cản thoát ra này bởi tính đặc trưng của tài sản cố định. Khi nhà xưởng và thiết bị có tính đặc trưng cao thì khó có thể thanh lý được. Ví dụ một quán café sách lớn khi muốn ngừng hoạt động thì ko thể bán được những tài sản cố định hiện tại hoặc chuyển giao quán nên phải tiếp tục kd.

Trang chủ | Update: 08/12/2019

Gửi mail Chia sẻ

Chia sẻ của bạn