Trang chủ » 2021 » Tháng 9 » Sự lệch lạc suốt hàng thế kỷ của môn ngữ văn

Sự lệch lạc suốt hàng thế kỷ của môn ngữ văn

Ngữ văn là văn hoá, không phải văn chương

vẻ đẹp cho môn ngữ văn

Đây là một chủ đề hết sức nan giải, nên tôi sẽ đưa ra quan điểm của mình theo cách dàn ý, ngắn gọn và xúc tích nhất. Tuy nhiên, những quan điểm này hoàn toàn đến từ cá nhân tôi chứ không phải được học thuộc lòng hay chép từ một cuốn văn mẫu nào cả.

I. Tại sao học sinh thích đọc truyện tranh mà không thích học văn?

Thực trạng thứ nhất

Một học sinh có trí nhớ tàm tạm, có tư duy logic tàm tạm, có tư duy sáng tạo tàm tạm đã viết gần đủ ý của cô giáo dạy văn về chủ đề phân tích tác phẩm chị Dậu, theo hướng phê bình chị Dậu vì bán con nên được điểm cao. Một học sinh khác thông minh, có hiểu biết xã hội, ham mê sáng tạo, do muốn phát triển ý mới mẻ nên đặt mình ở vai trò chị Dậu và tỏ ý đồng cảm, bênh vực chị Dậu, kết quả là bị đánh giá lạc đề và bị cho điểm thấp. Đó chính là một thực trạng giáo dục cố hữu trong giảng dạy môn ngữ văn hiện nay. Văn chương lối mòn và không chịu tiếp nhận cái mới.

Thực trạng này đã bắt nhiều thế hệ học sinh phải hiểu và cảm nhận tác phẩm văn học theo cùng một hướng duy nhất, triệt tiêu hết năng lực sáng tạo vốn là ưu điểm của tuổi trẻ. Thực trạng này đi ngược lại với quy luật của tự nhiên, là mỗi vấn đề đều có thể quan sát bằng 360 độ, không có đúng và không có sai tuyệt đối. Những tư duy mà thầy cô giáo dạy văn truyền lại cho học sinh từ năm này qua năm khác chẳng qua chỉ là cách tư duy lối mòn của một số nhà phê bình văn học từ năm nảo năm nào mà có khi bây giờ đã rất lỗi thời. Quan niệm về cuộc sống đang thay đổi từng ngày, nhưng quan điểm về tác phẩm văn học lại cứ bảo thủ giữ nguyên và kéo lê hàng thế kỷ.

Nếu bây giờ để một giáo viên dạy văn lớp 12 phân tích một tác phẩm văn học lớp 9 chưa chắc đã được 5 điểm, bởi không đúng đủ ý theo barem mẫu. Có khi đến chính ông tác giả viết ra tác phẩm đó cũng không được nổi 5 điểm. Vì khi viết nhà văn đâu so đo đong đếm xem mình sẽ dùng bao nhiêu biện pháp tu từ, những biện pháp tu từ gì? Mà xong rồi thì thôi, nhớ làm gì? Và chưa chắc ý tứ của tác giả đã trùng với ý tứ của mấy nhà phê bình văn học. Từ khi nào một môn học của sự cảm nhận như ngữ văn lại triệt tiêu sự sáng tạo, và trở thành một môn đọc chép, copy paste suốt từ năm này qua năm khác như vậy? Học sinh lớp 12 mà còn tập chép chính tả, học thuộc từng câu từng ý của người khác thì quả thực khó chấp nhận được. Nên giờ mà thích học văn bạn bè nó bảo điên. Đó là môn học chán ngắt không dành cho người thông minh.

Thực trạng thứ hai

Nếu học văn là để cảm thụ những tác phẩm văn học thì tại sao không chọn một chủ thể khác để cảm nhận? Ví dụ như âm nhạc? Bởi có phải ai cũng thích hoặc cũng có năng khiếu cảm nhận văn học đâu. Một nhạc sĩ, một hoạ sĩ cũng chưa chắc đã giỏi cảm nhận văn học. Những người xây dựng chương trình giáo dục môn ngữ văn đang có tham vọng biến một kỹ sư, một bác sĩ, hoặc một anh công nhân tương lai thành những nhà phê bình văn học. Đáng buồn thay là 10 nhà phê bình phải cùng một ý giống nhau, 10 năm phê bình phải cùng một ý giống nhau. Phân tích, mổ xẻ tác phẩm là việc của của nhà phê bình. Vậy sao lại bắt học sinh phải làm tốt?

Thực trạng thứ ba

Làm sao để một bạn trẻ chưa có nhiều trải nghiệm sống hiểu được cái nỗi niềm bay bổng của một ông nhà thơ Đỗ Phủ đời Đường bên Trung Quốc nào đó? Làm sao để một học sinh có thể hiểu ý tứ sâu xa của Truyện Kiều hay Bình Ngô đại cáo trong khi người lớn còn chưa hiểu hết được? Làm sao để học sinh cảm nhận được cái thực tế xã hội đau đớn khác xa so với cuộc sống hiện nay trong tác phẩm Vợ nhặt? Trong khi hiện tại còn biết bao vấn đề nan giải khổ sở mà học sinh phải vượt qua không được đề cập đến. Làm sao cứ phải nhớ từng câu từng chữ của nhân vật họa sĩ trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa trong khi có biết bao câu nói bắt trend đầy hấp dẫn? Nhân vật ấy nói những gì, có khi hỏi lại tác giả còn quên. Hoặc những câu như ông Nam Cao, Kim Lân sinh ngày tháng năm nào thì nhớ để làm gì? Vậy phải chăng môn văn đang tự đào thải mình bởi xa rời thực tế cuộc sống?

Hệ quả

Cách dạy và thi môn văn như vậy đã tạo ra kiểu tư duy đối phó, với mục đích chính là học thuộc và viết lại sao cho đủ ý. Học sinh tự mình phải triệt tiêu năng lực sáng tạo và đề cao năng lực chấp hành nên nảy sinh tâm lý đổ lỗi. Thực tế cho thấy thói quen xấu này đã được áp dụng rất phổ biến vào trong cuộc sống hiện nay. Đó là cách làm việc giả tạo, đối phó, tính toán, nhào nặn sao cho “đúng quy trình”, và văn hoá đổ lỗi. Một lối tư duy cực xấu đặc trưng của người Việt Nam.

 

II. Mục đích thực sự của môn văn là gì?

Môn văn nên được hiểu theo nghĩa đen là gì? Là văn học hay văn hoá? Theo tôi đó là VĂN HOÁ chứ không phải văn học, văn chương gì cả. Nếu là văn học, văn chương thì nó sẽ chỉ là một bộ môn nghệ thuật mà rất ít người thích và có thể cảm nhận, tất nhiên như vậy không cần thiết phải đưa vào chương trình giáo dục phổ thông. Phải là văn hoá thì mới phản ánh đúng vai trò của một môn học xã hội, có tầm quan trọng không kém gì những môn học tự nhiên. Bởi văn hoá chính là nền tảng giáo dục của mỗi con người, giúp hình thành “con người xã hội” với đầy đủ phẩm chất đạo đức và lương tri. Người Pháp học văn học Pháp để trở thành người Pháp. Người Nga học văn học Nga để trở thành người Nga. Người Việt học văn học Việt để trở thành nguời Việt.

Trọng tâm của môn văn phải là giáo dục tình cảm, tính nhân văn, góc nhìn bao quát, khách quan về các chủ thể trong cuộc sống, trong đó cảm nhận tác phẩm văn học chỉ là một phần nhỏ. Học văn để viết được một bài văn cảm nhận về cái hay cái dở của môn toán, môn lý, môn hoá cũng rất tuyệt vời. Sâu xa hơn là cảm nhận nỗi khổ của những cuộc đời bất hạnh như một người ăn xin, một tên ăn cướp, một kẻ từ tủ,… Từ đó mà rút ra bài học ý nghĩa cuộc sống sâu sắc cho mình và lan toả tới mọi người. Vậy mới thấy việc suốt bao nhiêu năm môn văn chỉ xoay quanh việc phân tích, cảm nhận những hình ảnh văn chương cũ kỹ thật tù tũng và lỗi thời.

“Học văn” chính là khai sáng khả năng của con người để thoát khỏi tình trạng “vị thành niên” về cảm xúc và lý trí, giúp thoát ra khỏi sự chi phối của kẻ khác, tự chủ và chịu trách nhiệm với suy nghĩ và hành động của mình. Học văn cũng là nâng cao hiểu biết về cuộc sống, con người, cách đối nhân xử thế qua những câu chuyện, những nhân vật. Nếu được như vậy môn văn sẽ có ý nghĩa thiết thực vô cùng, không phải chỉ học sinh mà cả người lớn cũng phải học và rèn luyện suốt đời.

Học văn là để làm người chứ không phải để trở thành nhà văn hay nhà phê bình văn học. Vậy nên những biện pháp tu từ, nhân hoá, ẩn dụ, so sánh,… này nọ nên coi là thứ phụ thôi chứ không nên coi là thứ chính, khong nhất thiết yêu cầu học sinh phải biết. Thực tế cuộc sống cho thấy 10 ông giám đốc thì 9 ông không viết nổi một bài luận xã hội, nếu cố viết thì câu cú, ý tứ sai tùm lum. Nhưng như vậy không có nghĩa là họ dốt mà chỉ là họ không chú tâm rèn luyện khả năng viết lách của mình. Còn trên các mặt trận khác họ vẫn rất tuyệt vời, vẫn là tổng chỉ huy quản lý cả chục, trăm, ngàn người trong đó có những đứa chuyên viên content viết lách rất tốt mà lương có vài triệu đồng. Nhưng chắc chắn một điều rằng, nếu câu cú, ý tứ không chỉn chu, súc tích, sâu sắc, lời ít ý nhiều thì con người ấy có giàu mấy cũng chẳng thể nào tiến hoá lên những cảnh giới làm người cao hơn được.

 

III. Giải pháp nào để thay đổi

Muốn xây cái mới hoàn chỉnh thì phải phá đi cái cũ. Phải dẹp bỏ lối tư duy khuôn mẫu hiện tại. Phải bỏ đi cách viết văn theo kiểu đoán ý tác giả, học thuộc lòng câu chữ đến mức tác giả có chết rồi cũng muốn đội mồ sống lại mà bức xúc “ý tao không phải vậy”.

Đưa ra đề thi mở, nghị luận xã hội nhiều hơn. Yêu cầu học sinh viết về các vấn đề xã hội theo góc nhìn của mình, từ đó khuyến khích đưa ra ý kiến, quan điểm cá nhân. Có như vậy học sinh mới bộc lộ được hết góc khuất trong tâm hồn, trong suy nghĩ để giáo viên uốn nắn, chỉnh sửa. Nếu các em có quan điểm giống nhau thì phải khuyến khích học sinh suy nghĩ theo hướng mới. Đó chính là một trong những cách rèn luyện tư duy độc lập, tự chủ vô cùng quan trọng sau này. Cao hơn cả là tư duy phản biện, phân tích có tính logic cao, hợp tình hợp lý.

Nếu đã định vị văn học là văn hoá thì một điều rất quan trọng đó là khuyến khích, yêu cầu học sinh ghi nhớ, hiểu biết nhiều hơn về các câu ca dao, tục ngữ Việt Nam… Vì nó là tinh tuý của văn của văn học truyền đời, của văn hoá dân tộc. Ngôn ngữ trong ca dao, tục ngữ rất mộc mạc nhưng vô cùng sâu sắc. Những bài văn hay những bài thơ có hay đến mấy cũng rất khó bì được với ca dao tục ngữ, lời ít ý nhiều.

Và cuối cùng, chìa khoá để giải được tất cả các vấn đề này sẽ nằm ở người giáo viên dạy văn. Giáo viên dạy văn phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức xã hội bao quát. Bởi lúc này vai trò của giáo viên đã không còn là người sửa câu cú, ý tứ đúng đủ theo văn mẫu nữa, mà là một “người thầy lớn” sửa từng lối tư duy sai lệch của học sinh, văn phong của học sinh thể hiện qua câu chữ, giúp học sinh hoàn thiện tư duy làm người chứ không chỉ là hoàn thiện cách viết văn. Có một thực tế là dù có barem chuẩn đến thế nào thì sự phát triển của học sinh phần lớn vẫn luôn nằm ở năng lực dẫn dắt của người giáo viên.

GodMentor. Đinh Tuấn Minh

Trang chủ | Update: 15/09/2021

Gửi mail Chia sẻ

Chia sẻ của bạn